Vấn đề sở hữu đối với Công ty TNHH (phần 2)


Trong phần 1, chúng tôi đã giới thiệu một số vấn đề sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên và hai thành viên, vẫn còn có nhiều ý kiến thắc mắc về công ty TNHH một thành viên của các bạn độc giả gửi đến khiến chúng tôi viết tiếp phần 2 để các bạn được giải đáp thỏa đáng.

Hỏi:

Gia đình tôi có một cơ sở kinh doanh đồ gốm mỹ nghệ đứng tên tôi nhưng công việc buôn bán chủ yếu do vợ tôi quán xuyến. Tôi đang có dự định thành lập một Công ty TNHH một thành viên thì liệu như thế có đúng pháp luật không? Một cá nhân có thể vừa là chủ cơ sở kinh doanh vừa là chủ sở hữu Công ty TNHH MTV được không?

Trả lời:

Căn cứ Điều 50 Nghị định số 43 ngày 15/04/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì: Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký hộ kinh doanh… Cá nhân, hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc. Do đó bạn chỉ có thể đăng ký được một hộ kinh doanh và không được đồng thời đăng ký 02 hộ kinh doanh.

Theo Quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 tại Mục 2, Chương 2 quy định về Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không cấm chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên có thể làm chủ sở hữu của nhiều doanh nghiệp khác và tại Điều 66 của Luật này có quy định về việc hạn chế đối với quyền của chủ sở hữu công ty cũng không hạn chế quyền làm chủ sở hữu của nhiều doanh nghiệp khác.

Căn cứ Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân, như vậy hạn chế việc một cá nhân được thành lập nhiều doanh nghiệp tư nhân chứ không hạn chế là chủ sở hữu hay thành lập doanh nghiệp khác.

Từ những căn cứ pháp luật trên bạn thấy rằng: Pháp luật không hạn chế việc bạn vừa là chủ sở hữu Công ty TNHH Một thành viên và là chủ sở  hữu của Hộ kinh doanh. Bạn hoàn toàn có quyền thành lập và quản lý các tổ chức kinh tế nêu trên miễn sao phải theo đúng trình tự, thủ tục của Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Hỏi:

Thực tế, phần lớn các Công ty TNHH MTV hiện nay chủ sở hữu là Tổng công ty (Ví dụ: Công ty TNHH MTV Sông Đà 706 thuộc quyền sở hữu của Tổng công ty Sông Đà). Vậy khi muốn giải thích ai là chủ sở hữu đầy đủ nhất thì giải thích như thế nào và căn cứ vào đâu? Công ty TNHH MTV đóng vai trò như thế nào khi kiện đòi tài sản nào đó như đất đai, nhà cửa…? Việc quản lý của Công ty TNHH MTV được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

–  Thứ nhất về chủ sở hữu của công ty TNHH MTV:  Công ty TNHH MTV có hai loại, đó là công ty TNHH MTV do cá nhân làm chủ sở hữu và công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu. Do đó để biết ai làm chủ sở hữu của công ty TNHH MTV thì căn cứ vào giấy đăng ký doanh nghiệp, điều lệ của công ty.

– Thứ hai: Công ty TNHH MTV có tư cách pháp nhân nên nó đóng vai trò là bên chủ nợ khi đòi nợ một tài sản nào đó. Công ty TNHH MTV có thể khởi kiện một cá nhân, tổ chức khác để đòi nợ.

– Thứ ba: Việc quản lý của công ty TNHH MTV

+ Đối với công ty TNHH MTV do cá nhân làm chủ sở hữu: Cơ cấu tổ chức thì bao gồm: Chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc, chủ sở hữu công ty đồng thời là chủ tịch công ty. Chủ sở hữu công ty có thể kiêm nhiệm hoặc thuê người khác làm giám đốc hoặc tổng giám đốc.

+ Đối với công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu: Chủ sở hữu công ty có thể bổ nhiệm một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền để quản lý công ty.

This entry was posted in hỏi đáp pháp luật and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s