Giải quyết nợ khi rút vốn khỏi công ty cổ phần


Khoảng tháng 3 năm 2012, em và 4 người bạn có quyết định thành lập công ty cổ phần,  với tỷ lệ cổ phần là 40-15-15-15-15, người giữ 40%  cũng là giám đốc công ty. Trong một năm hoạt động, do không có sự quản lý tốt và cũng gặp nhiều khó khăn nên 3 người giữ 15% cổ phần đã không còn làm việc tại công ty (nhưng trên giấy phép kinh doanh vẫn còn đủ tên 5 người), công ty cũng đã trả mặt bằng và thanh lý gần như toàn bộ đồ dùng văn phòng.

Tuy nhiên, các khoản nợ trong quá trình hoạt động vẫn còn, bao  gồm:

–  Khoản vay lúc thành lập doanh nghiệp (100 triệu đồng)

–  Khoản vay để duy trì hoạt động của công ty trong hơn 1 năm là 180 triệu (trong đó có lập thành hợp đồng và có chữ ký của giám đốc + 30 triệu thỏa thuận miệng và không có giấy tờ).

–  Khoản vay để nộp phạt do sai sót khi làm thủ tục thuế lúc mở công ty là 180 triệu đồng (sau này Giám đốc mới nói lại).

Như vậy hiện nay tổng số nợ đã lên tới gần 600 triệu đồng cộng với số tiền lãi và Giám đốc công ty nói số tiền nợ này chia cho 5 cổ đông để thanh toán thì chúng em mới được phép rút vốn. Cho em hỏi có phải 5 người đều phải chia tất cả số nợ đó hay chỉ phải chia một số khoản trong tổng nợ? Trách nhiệm của Giám đốc công ty như thế nào?

Giải quyết nợ khi rút vốn khỏi công ty cổ phần

Trả lời:

Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

1. Về trách nhiệm của các cổ đông góp vốn: cổ đông “chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp”.

2. Về trách nhiệm của Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty:

Trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty phải thông báo việc góp vốn cổ phần đến cơ quan đăng ký kinh doanh. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải chịu trách nhiệm cá nhân về các thiệt hại đối với công ty và người khác do thông báo chậm trễ hoặc thông báo không trung thực, không chính xác, không đầy đủ. (khoản 2 điều 84 Luật Doanh nghiệp).

“Giám đốc phải điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty, hợp đồng lao động ký với công ty và quyết định của Hội đồng quản trị. Nếu điều hành trái với quy định này mà gây thiệt hại cho công ty thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho công ty”. (điều 116 LDN)

Bạn đối chiếu với Điều lệ công ty, với các quy định nội bộ của Hội đồng quản trị công ty để có cơ sở xác định trách nhiệm cá nhân của Giám đốc công ty.

3. Xử lý các khoản nợ của công ty: Như bạn trình bày hiện nay công ty đang lâm vào tình trạng nợ xấu không có khả năng trả.

Chủ nợ của công ty có quyền khởi kiện ra tòa yêu cầu công ty phải hoàn trả các khoản nợ vay. Trường hợp công ty không có khả năng hoàn trả, chủ nợ có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để thanh lý các tài sản trả nợ cho chủ nợ theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên thực tế hiện nay không hiếm các đối tượng cho vay nặng lãi họ cố tình quàng trách nhiệm lên cá nhân cổ đông và có thể có sự đe dọa, dọa dẫm cổ đông phải trả tiền thay cho công ty. Bạn cẩn trọng đề phòng để kịp thời trình báo công an về các hành vi này nhằm bảo vệ sức khỏe, tính mạng của mình.

Cac vấn đề liên quan đến pháp luật khi công ty bạn thành lập bạn có thể tham khảo thêm tại Các vấn đề khi thành lập công ty của chúng tôi. Chúc bạn và các thành viên trong công ty thanh toán nợ và rút vốn thành công.

This entry was posted in hỏi đáp pháp luật and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s